Lạ thay cái nghĩa cái tình

Đọc trường ca Cổ Tích Làng Cát của Mai Nam Thắng.

  1. Tụi biết Mai Nam Thắng nung nấu viết Cổ tích Làng Cát cách đây đó mười năm. Trong suốt mười năm nung nấu ấy, anh đi về không biết bao nhiêu lần những làng chài miền Trung, sống hết mình với những ngôi làng nghèo đến nỗi không thể nghèo hơn : “ Đơn sơ chiếu lác chõng tre/ sải lưới ngăn vườn/ mảnh buồm vá áo…”, để tỡm kiếm trong “rong rêu kí ức/ lạo xạo thời gian sỏi đá trơ mòn” tất cả những gì cho cuốn biên niên sử làng bằng thơ của anh.

Và đây rồi, một ngày đẹp giời Cổ Tích Làng Cát đó có trong tay tụi.

 Mai Nam Thắng sinh ra và lớn lên dưới chân núi Phượng Hoàng chín mươi chín ngọn phía Tây Quảng Bình, nhưng đọc Cổ Tích Làng Cát không ai không nghĩ anh là đứa con đích thực làng chài miền Trung. Bởi vì anh cảm được cái lạnh lẽo rờn rợn tiếng “ quạ kêu ngày/chim lợn kêu đêm” trong hoang vu cát trắng. Đấy là tiếng cát buồn như khóc, tiếng cát tang tóc và cô đơn: “Chim lợn kêu váng óc cả trời khuya”.

Bởi vì anh cảm được cái đói cát, chỉ có cát mới có cái đói này, tuyệt không nơi nào có: “Lát xương rồng ngâm vôi bầm như máu/ lát xương rồng xát muối/ trẻ già đỏ mắt nhìn nhau”. Nếu không cảm được đói cát, cái đói đắng cay, cái đói tủi hờn, làm sao anh có thể nhỡn thấy: “cây mưng trụi trơ/ đọt chát đọt chua không kịp mọc”? Và có gì đâu một cây dừa cụt ngọn vẫn hằng hà sa số trên những làng chài qua bao nhiêu bão lụt đạn bom nửa thể kỉ qua để đến nỗi thơ anh  phải bật lên một tiếng khóc nghẹn đắng: “ tức tưởi thân dừa cụt/ trổ lên trời một tiếng khóc câm”?

Khóc câm ấy là khóc cát, cát mênh mông thế, hoang vu thế, khóc rống lờn phổng có ích gì. Khóc câm là tiếng khóc ngàn đời của “những cuộc đời úp mặt vào sông/ quăng mình ra biển”, những con người suốt đời “áo vá, nón cời ngoi ngóp cửa sông”.

Một khi anh đã thấm được tiếng cát, đói cát, khóc cát thì tất nhiên anh nhận ra ngay niềm vui của cát, ấy là niềm vui sau một trận mưa lành, một thứ mưa đền cây ở đâu cũng có, vỡ thế chẳng mấy ai quan tâm. Chỉ có những đứa con của cát mới biết đó là trận mưa hiếm hoi, mới reo lên, reo lên như một tiếng khóc oà: “ Phải vì muôn đắng ngàn cay/ Giời đền cho trận mưa nay mát lành?” Sau tiếng reo trào nước mắt ấy là những líu ríu mừng vui, tức tưởi: “Đền cho ai những màu xanh/ bao nhiêu mái tóc đó thành phù vân/ Đền cho những tối giao quân/ mẹ lần xóa sạch dấu chân con về/ Đền cho cơn khát đêm hè/ gối đầu lên sóng nằm nghe biển gào/ Đền cho dây bí dây bầu/ bao năm lầm lụi bên rào kẽm gai”.

Ta sống quá lâu ở thị thành, vơ vét hết phù hoa đến độ tâm hồn  đã nhiễm độc. Như Nguyễn Thành Phong đã có lần thốt lên trong thơ anh: “Ta ăn gạo thị thành như là ăn phải bả”. Một khi như thế khó lòng ta cảm được tiếng reo mừng mọc mạc, hồn hậu thế kia và nhanh chóng bỏ qua. Rồi một ngày vào lúc ta thấy mình đơn độc giữa phố phường, một mình ngồi im trong xó tối nhớ về nơi ta đã sinh ra, khi đó ta mới thấm hết niềm vui đau của cát.

  1. Cổ tích làng cát khắc họa nhiều số phận, số phận nào cũng xót xa. Một O Bê sống sót sau trận dịch đậu mùa làng cát. Những trận dịch đậu mùa tai ác đã vùi  trong cát không biết bao nhiêu đứa con của cát và “cấy chằng chịt trên mặt người sống sót.” Cấy chằng chịt vào tâm hồn trinh nữ của cô gái làng cát khiến O Bê một mình một đêm một thui thủi : “gánh rau chợ gần/ gánh cá chợ xa”, một mình cay đắng đối diện với gương mặt đau đớn của mình: “ Sùm sụp nún cời/ bưng mặt khóc mỗi lần ra giếng nước.” Phàm là đàn bà, ai không thèm những tiểng ru. Trẻ trung thì ru tình, tìm được người tình thì ru con. O Bê không có, không thể có cả hai thứ ru ấy, chị lặng lẽ ru đêm: “ Kẽo kẹt ru hời đêm vá vào đêm” . Bóng người đang bà một mình ôm lấy bóng đêm kẽo kẹt ru hời mới xót làm sao!

 Ta xót cho O Bê một thì xót cho ông Xờng gấp năm gấp mười. Ông Xờng là nhân vật được Mai Nam Thắng kì công gây dựng bởi vỡ số phận của ông gắn bó không rời với số phận với Làng Cát, ngôi làng chết đi sống lại không biết bao nhiêu lần. Ông Xờng suốt đời cặm cụi làm mỗi việc chôn cất người chết của làng. Ông làm cái việc cực nhọc, buồn thảm đó từ lúc mười lăm tuổi. “Năm đó ông Xờng mười lăm tuổi/ loắt choẳt như thằng bé lên mười.” ấy là năm 1945, năm đói rách nhất của Tổ quốc ta.

 Ông bắt đầu nghiệp chướng bằng việc lần lượt chôn cất sáu đứa em chết đói: “Mỗi đứa cách nhau hai tuổi/ đứa nào cũng đi lúc nửa đêm”. Cái chết của đứa em út cho đến già ông cũng không quên. Làm sao có thể quên được cái chết một đứa bé chưa đầy tuổi tôi: “ lẩy bẩy trên ngực mẹ tong teo/ giọt sửa chắt ra đắng nghét giọt xương rồng/ nó nấc lên tiếng cuối cùng hờn dỗi”. Ông không khóc, cả sáu đứa em chết ông không khóc. Ông lẳng lặng ‘ bó nó vào tàu lá chuối’ “ôm ra chân động cát”, lẳng lặng “đánh dấu các em bằng những bụi xương rồng”. Từ đó ông trở thành người chôn cất người chết duy nhất của làng. Một mình ông mang vác gỏnh nặng tang thương của cả làng: “Ngày ngày bóng ông nhòa trong búng cát/ xiêu vẹo đi về từ bãi tha ma”. Với ai ông cũng đánh dấu trước nấm mồ của họ bằng những bụi xương rồng.

 “ Xờng không sợ ma, không sợ bóng tối, chỉ sợ nhất những người hấp hối, mắt trợn trừng ám ảnh hằng đêm”. Đấy là ám ảnh nặng nề nhất đời ông. Đối với người đời, ám ảnh đó thật ghê rợn. Không ai cay cực như ông Xờng, con người suốt đời đối diện với cái chết của người thân: “ Người lớn, trẻ con đen ngòm hố mắt”. Ám ảnh đến độ thất thần, ngày ngày ông “ngẩn ngơ… trước những nấm mồ vừa chôn”. Ám ảnh đến nỗi đã biến ông thành một người cô độc giữa cuộc đời: “Cuốc xên đào huyệt đã mòn/ trái tim tội nghiệp vẫn còn nguyên sơ”.

Tưởng như ông Xờng không nước mắt, ông đó chai lì trước những cái chết tang thương. Đôi mắt ráo hoảnh trên gương mặt khô rang, ấy là gương mặt cát. Không gỡ thấm nước nhanh như cát, chẳng khi nào nước có thể để lại dấu vết trên cát. Nước mắt thấm vào gương mặt cát nhanh đến nỗi người ta nhầm ông Xờng không biết khóc. Chỉ một lần, duy nhất lần ấy, ngày Làng Cát giải phóng, nghĩa là Làng Cát sẽ được tự do, Làng Cát từ nay tránh được những cái chết oan ức, đau thương cũng có nghĩa là ông có thể trốn được cái nghiệp trời đày. Niềm vui sướng vô biên của con người suốt đời chôn người chết đó vỡ oà ra thành tiếng khóc đau: “ Ông Xờng chạy ra động cát quỳ sụp xuống vạt xương rồng/ khóc hu gọi mạ/ hạnh phúc lớn như trời như bể/ nước mắt lăn trên cát ngời ngời…”  Niềm vui  vỡ oì như trận mưa đền cây trên gương mặt cát bỏng rát thương đau ấy khiến ta không thể quên được. Vì thế ông Xờng còn mãi trong cảm thông chia sẻ của người đời.

Văn chương có thể làm ra nhiều thứ nhưng thứ mà người đời luôn luôn nhớ, ngay cả khi đó quên sạch những gỡ anh viết ra, ấy là nhân vật, nếu như anh đủ tài tạo dựng ra nó. Ta nhớ chị Dậu của Ngô Tất Tố, Chí Phèo của Nam Cao, Xuân tóc đỏ của Vũ Trọng Phụng anh Sài của Lê Lựu, lão Quềnh của Nguyễn Khắc Trường… trong văn. Ta nhớ Lượm của Tố Hữu, cô láng giềng của Nguyễn Bính, chị của Hữu Thỉnh, mẹ của Thanh Thảo, mẹ của Trúc Thông, cha của Trần Anh Thái, con Vàng của Trần Đăng khoa … trong thơ. Giờ đây ta sẽ không quên ông Xờng của Mai Nam Thắng, dù mai sau có thể người đời sẽ quên sạch thơ anh.

  1. Cổ Tích Làng Cáttrước hết là cổ tích những cái chết. Chết đói rét, chết đạn bom, chết bão lụt, chết bệnh tật. Mai Nam Thắng dám viết về những cái chết buồn thảm kia cũng chỉ vì anh nhận ra nỗi khát sống của Làng Cát. Nỗi khát sống đến làm ta kinh ngạc. Một khi cái chết bủa vây sự sống thì sự sống sẽ trỗi dậy không ngừng. Con người tự bảo vệ mignh trước cái chết bằng chính sự hồi sinh quật cường của họ . Và đấy chính là  những gì Mai Nam Thắng muốn gửi gắm. Vì thế trong thơ anh, cái chết lại có tên Hồi Sinh. Ba chương nói về ba trận chết kinh hồn: Chết đói, chết đạn bom, chết bão lụt lại có tên Hồi Sinh 1, Hồi Sinh 2, Hồi Sinh 3. Những Hồi Sinh rớm máu.

 Một trận bão lớn chưa từng có trong lịch sử Làng Cát và những cơn sóng thần chưa từng có trong kí ức của người đời đó ập vào Làng Cát. “Làng trắng rợn những ngõ hoang quạnh quẽ/ những ngôi nhà nền trơ váng đỏ/ không chốn bơ vơ không chốn đi về…”.Chút nắng vàng sau cơn bão chỉ làm cho tang tóc được khắc sâu vào tâm khảm người đời: “Nắng hiu hắt trước hoàng hôn góa bụa/ bóng mồ côi lẫm chẫm, nhạt nhòa…”

Sau cơn bão, hình ảnh duy nhất ta thường gặp ở những làng chài miền Trung là bóng những người thân đi tìm xác những người thân trên bờ biễn hoang tàn. Nhìn bóng anh Thứ vật vờ trên bờ biển, không ai không khỏi ngậm ngùi: “ Anh bơ phờ đi tìm xác người thân/ lần theo ngấn bùn/ lần theo vệt sóng/ lần theo tiếng quạ chao đầu bãì cuối ghềnh.” Cuộc tìm kiếm trong vô vọng. Tất cả đã đi về trời không để lại dấu tích, anh Thứ trở về làng trước “những cái nhìn hộc gió trân trân”. Nhưng đứa con của cát không chịu sụp đổ, không chịu khuất phục trước cái chết, anh đã làm một chuyện bất ngờ, quá bất ngờ với những ai đang chìm trong tang túc: “Anh chọn ngày cưới vợ/ cô gái cùng chung cảnh ngộ/ hai mảnh đời nương tựa vào nhau” Phải nương tựa vào nhau để hồi sinh sự sống, đấy mới là điều quan trọng, đấy mới chính là triết lý hồi sinh của Làng Cát, triết lý của những ngọn nến trên quan tài của người chết thốt lên lạnh lùng và quyết liệt: “Những ngọn nến cháy những lời gan ruột:/ chiếc lá cuối cùng phải xanh chồi biếc lộc/ cây gỗ cuối cùng phải nên rường cột/ cơ nghiệp nhà ta xin kể từ đây”.

 Ta bỗng cay cay đầu sống mũi khi thấy đám rước dâu lặng lẽ đi trong đổ nát: “ Hạnh phúc dìu hai trái tim đau/ qua ngõ những ngôi nhà chưa kịp ngày lành lặn/qua hàng rào…tím vào khuất lặng/ qua ánh nắng đầu tiên nhen nhúm ánh ngày…” Hãy tưởng tượng xem nếu ta được dự vào đám cưới đau buốt ấy, chứng kiến “hạnh phúc cầm tê dại bàn tay”, chứng kiến “mâm cơm cúng ngả ra làm cỗ cưới/ những giọt nến bàn thờ tan chảy về đâu…”, ta sẽ thế nào? Thì ta sẽ hệt như người làng cát “đến chật nhà sao mà yên lặng quá/ không ai nỡ chúc mừng/ không ai nỡ khóc…”. Một tâm trạng đến Chúa cũng không thể thốt nên lời.

 Không thể thốt nên lời nhưng Chúa lòng lành đã thấu hiểu nỗi khát sống của con người. Con người trong Cổ tích Làng Cát không đợi Chúa ban cho sự sống, chính họ đó đứng lên giằng lấy sự sống từ tay Thần Chết. Tiếng khóc của đứa trẻ sinh ra trong tang tóc tràn ngập chương cuối cùng trường ca Mai Nam Thắng là thông điệp niềm tin về sự sống vĩnh hằng của con người. Tiếng khóc vỡ òa “lay chuyển cả trời đất”  trong đêm tối, trong chết chóc đau thương, trong hoang vu, trong cay cực nhọc nhằn: “ Tiếng khóc chào đời như thét/ cứ khóc nữa đi cho trời biển biết/ Làng Cát vừa sinh hạ một chàng trai…”. Tiếng khóc khởi đầu của sự sống, là  “sợi dây bền chặt/ neo giữ ngôi làng trước bão tố phong ba”, là tiếng reo  niềm tin tất thắng của con người, rằng không một thế lực hắc ám nào có thể đè bẹp được sự sống của con người, bởi vỡ con người đó làm ra những “ cuộc hồi sinh vĩ đại nhất”.

Cổ tích Làng Cát đó khuất phục chúng ta bằng niềm tin cháy bỏng ấy, khuất phục những ai vẫn chuộng chữ nghĩa, coi chữ nghĩa là cứu cánh của thơ ca bằng sự hồn hậu chất phác một hồn thơ. Sự hồn hậu chất phác thường không hấp dẫn người đời bằng hào hoa nhưng chính nó lại sống bền hơn mọi hào hoa, tôi tin thế, suốt đời tôi tin thế.

                                                      Bắc Linh Đàm, 13/12/2004.

                                                      Nguyễn Quang Lập.

Add a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *